Dàn ý Phân tích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga (30 bài văn mẫu) – Ngữ văn lớp 9

Bạn đang xem: Dàn ý Phân tích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga (30 bài văn mẫu) – Ngữ văn lớp 9 tại Kotex Pro Đề bài:Phân tích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt …

Bạn đang xem: Dàn ý Phân tích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga (30 bài văn mẫu) – Ngữ văn lớp 9 tại Kotex Pro

Đề bài:Phân tích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga

Bài giảng: Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga – Cô Nguyễn Dung (Giáo viên )

Dàn ý Phân tích đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga

Dàn ý – mẫu 1

1, Mở bài:

Giới thiệu tác phẩm và đoạn trích:

    – Truyện thơ Lục Vân Tiên của tác gia Nguyễn Đình Chiểu là một trong những truyện thơ Nôm đặc sắc của kho tàng thi ca Việt Nam.

    – Đoạn trích “Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga” nằm ở phần đầu của truyện, miêu tả cảnh Lục Vân Tiên lần đầu gặp Kiều Nguyệt Nga, cho thấy tinh thần trượng nghĩa của nam tử hán thời phong kiến.

2, Thân bài

a, Tình huống gặp gỡ – Lục Vân Tiên đánh cướp:

    – Chủ tớ Kiều Nguyệt Nga trên đường bị cướp chặn xe, Lục Vân Tiên tình cờ đi ngang qua, thấy vậy liền ra tay cứu giúp.

    – Cảnh đánh cướp thể hiện tài năng võ thuật, sự mưu trí, khỏe khoắn của Lục Vân Tiên:

    + “Bẻ cây làm gậy nhằm làng xông vô”: câu thơ thể hiện sự gan dạ, không do dự lao tới cứu người.

    + “Kêu rằng: Bớ đảng hung đồ!/Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân.”: hai câu thơ cho thấy bản tính quân tử, minh bạch của Lục Vân Tiên. Trước khi ra tay, chàng tuyên bố lí do sự ra tay của chàng là vì chính nghĩa, việc ra tay cũng minh bạch, không phải đánh lén.

    + Trận đánh gay cấn, “bốn phía bủa vây bịt bùng” vô cùng nguy hiểm, nhưng càng cho thấy tài năng của Lục Vân Tiên: “tả đột hữu xông/ Khác nào Triệu Tử phá vòng Đương Dang”.

⇒ Hình ảnh so sánh Lục Vân Tiên với nhân vật anh hùng Triệu Tử, tả đột hữu xung, câu thơ với giọng điệu nhanh, dứt khoát, tất cả thể hiện sức mạnh của nhân vật.

    – Kết quả của trận đánh: kẻ cướp thua tan tác, bỏ cả gươm giáo, thủ lĩnh Phong Lai bị Vân Tiên tiêu diệt.

⇒ Lời thơ như tiếng reo hò trước sự thắng lợi của công lí. Hình ảnh Lục Vân Tiên qua trận đánh trở thành hình ảnh một người anh hùng thượng võ, bênh vực kẻ yếu, trừ gian diệt ác cho nhân dân

b, Cảnh Lục Vân Tiên gặp Kiều Nguyệt Nga:

    Tính cách, phẩm chất của Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga thể hiện qua màn đối đáp trả ơn.

    – Khi thấy tiếng than khóc trong xe ngựa, Vân Tiên hỏi chuyện, “động lòng” trước cảnh hai cô gái gặp nguy, khẳng định đã trừ hết kẻ gian.

    + Ngăn không cho hai cô gái ra ngoài: tư tưởng nam nữ thụ thụ bất thân thời phong kiến.

    + Hỏi thăm tên tuổi và lí do hai người bị nạn giữa đường.

⇒ Từ ngôn ngữ mộc mạc, giản dị thể hiện tinh thần võ tướng khi tả cảnh đánh kẻ ác, tác giả chuyển qua sử dụng ngôn ngữ trang trọng để xây dựng đoạn hội thoại. Từ đó cho thấy cả hai nhân vật đều là người có học thức, trọng tôn ti trật tự.

    – Khi biết người cứu mình là một trang nam tử hán, Kiều Nguyệt Nga đã kể rõ sự tình: nàng cùng tì thiếp lên đường đến nơi cha đang làm quan, giữa đường gặp cướp may nhờ Vân Tiên cứu. Tính cách và sự giáo dục của nàng thể hiện qua những câu:

    + Làm con đâu dám cãi cha: đặt chữ hiếu lên trước tiên, không quản khó khăn vất vả của bản thân.

    + Tiết trăm năm cũng bỏ đi một hồi: quan trọng danh tiết.

    + Muốn lạy tạ ơn cứu mạng của Vân Tiên, mong chàng đi cùng để cha con nàng báo ơn

⇒ Qua đây ta thấy một nhân vật Kiều Nguyệt Nga biết trước sau, hiếu thuận, lễ tiết, là một tiểu thư khuê các có học thức, nghĩa tình.

    – Khi nhận được ngỏ ý tạ ơn của Nguyệt Nga, Vân Tiên liền từ chối: “Làm ơn há dễ trông người trả ơn/ Nhớ câu kiến ngãi bất vi/ Làm người thế ấy cũng phi anh hùng”.

    + Tô đậm thêm phẩm chất con người trượng nghĩa.

    + Thể hiện một phương châm sống của đấng nam nhi thời phong kiến: thấy việc nghĩa mà không làm thì không phải là anh hùng

⇒ Tác giả thông qua nhân vật Lục Vân Tiên nhắc lại những đạo lí làm người cần có ở một trang nam nhi, thông qua Kiều Nguyệt Nga ca ngợi vẻ đẹp chính chuyên của người phụ nữ Việt Nam.

c, Nghệ thuật đoạn trích:

    – Nghệ thuật miêu tả nhân vật sử dụng nhiều đối thoại, hành động, ít miêu tả ngoại hình, nội tâm, bởi tác giả sáng tác trong hoàn cảnh bị mù lòa, ông đọc để người khác ghi chép lại nên truyện mang tính chất truyền khẩu. Qua lời nói và hành động, nhân vật bộc lộ tính cách, phẩm chất.

    – Ngôn ngữ thơ mộc mạc như lời ăn tiếng nói hằng ngày, đậm tính Nam Bộ. Thể thơ lục bát dễ nhớ.

    – Sử dụng nhiều hình ảnh so sánh, điển tích, triết luận.

3, Kết bài:

    – Kết luận về nội dung: đoạn thơ đề cao những phẩm chất tốt đẹp của con người Nam Bộ nói riêng và con người Việt Nam nói chung. Đoạn thơ cũng là khởi đầu cho đoạn nhân duyên giữa Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga.

    – Nghệ thuật miêu tả nhân vật xuất sắc, ngôn ngữ giàu tính triết lí.

Dàn ý – mẫu 2

I. Mở bài:

– Giới thiệu tác giả, tác phẩm và đoạn trích:

+ Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888) là một nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ 19.

+ Truyện Lục Vân Tiên là một trong những tác phẩm đặc sắc nhất của Nguyễn Đình Chiểu, nói về nhân vật Lục Vân Tiên – người anh hùng trượng nghĩa, văn võ song toàn và phẩm chất tốt đẹp.

+ Đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga nằm ở phần đầu của truyện thể hiện khát vọng hành đạo giúp đời của tác giả và khắc họa những phẩm chất tốt đẹp của hai nhân vật Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga.

II. Thân bài:

* Luận điểm 1: Lục Vân Tiên và hành động đánh cướp

– Cảnh Lục Vân Tiên gặp bọn cướp đang hoành hành:

+ Chàng không chỉ nhân nghĩa trong hành động mà còn thể hiện trong lời nói.

+ Chàng chỉ trích và phê phán lũ giặc cướp nhưng cũng chính là lời tuyên bố về quan điểm sống đầy cao đẹp của chàng.

+ Giữa đường gặp chuyện bất bình thì sẵn sàng xả thân ra tay cứu giúp.

– Cảnh Lục Vân Tiên chống lại bọn cướp:

+ Vân Tiên chỉ có một mình, tay không đánh cướp

+ Không hề run sợ, vẫn “bẻ cây làm gậy” xông vào đánh cướp

-> Hành động nhanh, mạnh, dứt khoát của Vân Tiên được tác giả ví với người anh hùng Triệu Tử khi phá vòng Đương Dương, một anh hùng hảo hán, có khí phách, trượng nghĩa.

=> Trước sức mạnh và tài nghệ của Vân Tiên, bọn cướp đã bị đánh tan tác, nhân nghĩa bao giờ cũng chiến thắng.

=> Hình ảnh một người anh hùng thượng võ, bênh vực kẻ yếu, trừ gian diệt ác cho nhân dân.

* Luận điểm 2: Lục Vân Tiên gặp Kiều Nguyệt Nga

+ Vân Tiên “động lòng” thương xót, ân cần hỏi han, an ủi

+ Khi nghe trong kiệu vọng ra tiếng nói muốn được tạ ơn, Vân Tiên vội gạt đi ngay

+ Vân Tiên không muốn nhận những cái lạy tạ của hai cô gái

+ Không nhận chiếc trâm vàng mà chỉ cùng Kiều Nguyệt Nga xướng họa một bài thơ

-> Dường như đối với Vân Tiên, làm việc nghĩa là bổn phận, lẽ tự nhiên

=> Lục Vân Tiên không chỉ là một người có học thức mà còn là một người hào hiệp, trượng nghĩa. Đối với Vân Tiên, chàng coi việc nhân nghĩa trên đời là điều tất yếu, nếu làm ơn mà vì được đền đáp, trông ngóng đến việc trả ơn thì đó không còn là người anh hùng.

* Luận điểm 3: Hình ảnh Kiều Nguyệt Nga.

+ Là con gái quan tri phủ.

+ Xinh đẹp, nết na, có học thức.

+ Cách xưng hô vừa thận trọng vừa khiêm nhường

+ Nói năng dịu dàng, mực thước

+ Băn khoăn tìm cách trả ơn Vân Tiên

+ Tự nguyện gắn bó cuộc đời mình với Vân Tiên.

-> Kiều Nguyệt Nga là người ân cần, có tình nghĩa trước sau.

=> Tác giả thông qua Kiều Nguyệt Nga để ca ngợi vẻ đẹp chính chuyên của người phụ nữ Việt Nam.

* Đặc sắc nghệ thuật

+ Khắc họa nhân vật qua hành động, cử chỉ, lời nói.

+ Ngôn ngữ bình dị, mộc mạc, đậm màu sắc Nam Bộ

+ Ngôn ngữ kể chuyện tự nhiên, ít trau chuốt, uyển chuyển

+ Sử dụng nhiều đối thoại, hành động, ít miêu tả ngoại hình, nội tâm.

III. Kết bài:

Cảm nhận của em về đoạn trích: Đoạn trích đã khắc họa một cách rõ nét, chân thực và đầy sống động về người anh hùng trượng nghĩa Lục Vân Tiên, đó là một hình mẫu anh hùng lí tưởng và khát vọng về lẽ công bằng ở đời.

Phân tích đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga – mẫu 1

Nguyễn Đình Chiểu là một nhà văn, nhà thơ tiêu biểu của nền văn học Việt Nam, thơ văn của ông không có sự chau chuốt, cầu kỳ về câu từ mà lại rất mộc mạc, dân dã gắn liền với đời sống của con người Nam Bộ. Vì vậy trong nền văn học của Việt Nam, đại thi hào Nguyễn Du nổi tiếng với kiệt tác truyện Kiều, đây là tác phẩm được đông đảo độc giả trong nước, cũng như độc giả nước ngoài đón nhận bởi câu từ mượt mà, văn phong khoa học, giàu giá trị nội dung cũng như tư tưởng thì văn chương của cụ Đồ Chiểu đã thâm nhập vào đời sống, trở thành một phần đời sống của người dân Nam Bộ, người ta đọc Truyện Lục Vân Tiên phẩm của ông quen thuộc như những bài đồng dao dân gian. Truyện Lục Vân Tiên nổi tiếng bởi chính chất mộc mạc, gần gũi ấy, trích đoạn “Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga” cũng đã thể hiện được phần nào đặc trưng thơ văn của tác phẩm này.

“Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga” là một trích đoạn của tác phẩm “Truyện Lục Vân Tiên”, kể về hành động nhân nghĩa, vô tư của Lục Vân Tiên, khi chàng bắt gặp trên đường cảnh bạo tàn, chàng đã không hề né tránh hay e ngại những tai họa sẽ đến mà hết lòng ra tay cứu giúp người bị nạn. Đoạn trích thể hiện được nét đẹp trong phẩm chất cũng như tâm hồn của Lục Vân Tiên, chàng làm việc nghĩa xuất phát từ tấm lòng mà không hề tính toán đến việc thiệt hơn, báo đáp ân nghĩa. Ngoài ra, Kiều Nguyệt Nga cũng là một nhân vật được xây dựng khá đặc sắc, nàng là một tiểu thư khuê các, khi được cứu giúp bởi Lục Vân Tiên nàng đã thể hiện những phẩm chất tốt đẹp như trọng ân nghĩa, hiền thục đoan trang lại là một người con có hiếu.

Mở đầu đoạn trích, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã miêu tả một cách chân thực, sống động những hành động của Lục Vân Tiên, đó chính là khi chàng ra tay diệt trừ cái bạo tàn, không cho phép nó làm tổn hại, gây ra đau khổ cho những người dân lương thiện, đây là một hành động đẹp, là biểu hiện ra bên ngoài của một tấm lòng đáng quý, đáng trân trọng.

“Vân Tiên ghé lại bên đàngBẻ cây làm gậy nhằm làng xông vôKêu rằng: “Bớ đảng hung đồ”Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân”

Câu thơ miêu tả những hành động của Lục Vân Tiên khi gặp một sự cố ở trên đường, đó là chứng kiến cảnh lũ cướp hoành hành, đang gây họa cho người dân, bản tính cương trực, căm ghét cái ác lại đề cao hành động nhân nghĩa đã thôi thúc Vân Tiên hành động, và hành động của chàng dường như cũng chỉ diễn ra trong một cái chớp mắt, chàng không hề suy nghĩ, tính toán thiệt mất nếu như mình can dự vào mà chàng lập tức ra tay diệt trừ mối nguy hại ấy, bảo vệ người dân. Và sự gấp rút của tình huống nên chàng không kịp chuẩn bị gì mà tiện tay bẻ luôn cành cây bên đường để làm vũ khí diệt trừ cái ác “Bẻ cây làm gậy nhằm đằng xông vô”. Không chỉ nhân nghĩa trong hành động mà lời nói của chàng cũng thể hiện được tính cách cương trực, thẳng thắn của chàng “Kêu rằng bớ đảng hung đồ/ Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân”.

Lời nói của Lục Vân Tiên là hướng đến chỉ trích, phê phán lũ giặc cướp nhưng cũng là tuyên ngôn sống đầy cao đẹp của chàng, sống là phải hướng đến bảo vệ cuộc sống của những người dân lành, chứ không phải mang đến những đau khổ cho họ. Và những hành động bạo tàn, “hồ đồ” chàng càng không cho phép nó xâm hại đến những con người lương thiện ấy. Vân Tiên không chỉ là một con người có tình thương với con người, mang trong mình tinh thần chính nghĩa cao đẹp mà chàng còn là một chàng trai khỏe mạnh, tài giỏi, điều này được thể hiện ra trong những hành động chàng chống lại những tên cướp:

“Vân Tiên tả đột hữu xông………….Bị Tiên một gậy thác rày thân vong”

Những động tác của Vân Tiên đều rất dứt khoát, nhanh nhẹn “tả đột hữu xung”, và những hành động anh hùng này được nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu so sánh với hình ảnh người anh hùng Triệu Tử khi phá vòng Đương Dang. Trước sức mạnh của Lục Vân Tiên thì băng cướp bị đánh tan “Lâu la bốn phía vỡ tan”, chúng hoảng loạn bỏ lại gươm giáo mà tìm đường thoát thân. Và cầm đầu của băng đảng này là Phong Lai thì bị Tiên cho một gậy “thác rày thân vong”. Đây là sự trừng phạt thích đáng cho những kẻ lấy việc hại người làm niềm vui, làm mục đích kiếm sống. Đối với những tên cướp ngày Lục Vân Tiên tuyệt đối không khoan nhượng, lời nói và hành động đều hết sức quyết liệt nhưng khi hỏi thăm người bị nạn thì chàng lại trở nên vô cùng dịu dàng, phải phép:

Dẹp rồi lũ kiến chòm ongHỏi: “Ai than khóc ở trong xe này”

Không chỉ ra tay cứu giúp người bị nạn mà chàng còn hết lòng quan tâm đến họ, thể hiện ngay qua lời hỏi thăm ân cần, và động viên, giúp người bị nạn trấn tĩnh lại tinh thần sau cơn hoảng loạn bằng việc thông báo cho họ biết tình hình bên ngoài, rằng những lũ “kiến chòm ong” đã bị tiêu diệt, cũng tức không còn bất cứ sự nguy hiểm nào có thể đe dọa nữa. Và phẩm chất tốt đẹp của Lục Vân Tiên cũng tiếp tục được bộc lộ khi chàng có cuộc đối thoại với người bị hại, cũng tức Kiều Nguyệt Nga. Khi Kiều Nguyệt Nga có ý định bước ra khỏi kiệu để cúi lạy Lục Vân Tiên vì công cứu mạng thì chàng nhất quyết không chịu nhận:

“Khoan khoan ngồi đó chớ raNàng là phận gái ta là phận trai”

Chỉ thông qua vài câu nói thôi nhưng ta có thể nhận thấy Lục Vân Tiên là một con người trọng đạo lí, cũng như những khuôn phép trong xã hội xưa. Chàng không muốn Kiều Nguyệt Nga ra ngoài cúi lạy mình vì không muốn sự gặp mặt này ảnh hưởng đến phẩm tiết của nàng, vì trong quan niệm của xã hội phong kiến xưa, thì “nam nữ thụ thụ bất thân”, tức là giữa con trai và con gái cần phải có những khoảng cách nhất định, không được tùy tiện gặp mặt hay có những hành động thân thiết. Lời nói của Lục Vân Tiên cũng thể hiện chàng là một con người có học thức, còn đặt lời nói ấy trong xã hội ngày nay thì ta lại thấy có cái gì đấy đáng yêu ở chàng trai này. Nhưng mục đích của Lục Vân Tiên không chỉ vì lễ tiết mà chàng cũng không muốn nhận sự báo đáp của Kiều Nguyệt Nga, bởi hành động cứu giúp của chàng là xuất phát từ tấm lòng chứ không phải vì mục đích vụ lợi gì “Làm ơn há dễ trông người trả ơn”, câu nói của chàng với Kiều Nguyệt Nga càng làm cho con người chàng trở nên đáng trân trọng hơn.

“Nhớ câu kiến nghĩa bất viLàm người thế ấy cũng phi anh hùng”

Trong quan niệm của Lục Vân Tiên thì những việc nhân nghĩa là tất yếu, và nếu làm ơn mà trông ngóng việc trả ơn thì không phải người anh hùng “Làm người thế ấy cũng phi anh hùng”.

Như vậy, đoạn trích “Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga đã khắc họa một cách chân thực, sống động hình ảnh của người anh hùng hiệp nghĩa Lục Vân Tiên, ở chàng hiện lên với biết bao phẩm chất tốt đẹp, không chỉ là con người nhân nghĩa, thấy việc ác là ra tay diệt trừ, bảo vệ sự bình yên cho con người mà chàng còn là một con người có học thức, trọng những lễ nghi, khuôn phép. Và ở chàng trai ấy ta cũng có thể thấy được một quan niệm sống thật đẹp, đó là quan niệm về việc nghĩa và về người anh hùng. Khắc họa nhân vật Lục Vân Tiên cũng là cách nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu hình mẫu anh hùng lí tưởng và khát vọng về lẽ công bằng ở đời.

Phân tích đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga – mẫu 2

Trong nền văn học của Việt Nam ta, nếu như Truyện Kiều của Nguyễn Du được xem là đỉnh cao, là kiệt tác của nền thơ ca bác học trong thể loại truyện thơ Nôm, thì Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu lại được xem là viên ngọc sáng, mang những giá trị nhân văn, nhân bản sâu sắc, hướng con người đến với chữ “Thiện”, thông qua cách sử dụng kết cấu cốt truyện kinh điển trong văn học dân gian phương Đông. Nhân vật chính là người có tài, có nhiều phẩm chất tốt đẹp, nhưng luôn gặp nhiều gian khó và đều vượt qua được nhờ sự nỗ lực của bản thân và sự giúp đỡ của các nhân vật phụ trợ, và cuối cùng là một cái kết có hậu cho nhân vật chính, kẻ ác phải chịu quả báo. Từ đó rút ra bài học nhân sinh sâu sắc về cách con người đối xử với nhau trong cuộc sống, và chân lý không bao giờ thay đổi, ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác.

Tác giả Nguyễn Đình Chiểu là một con người có cuộc đời nhiều đau thương mất mát, bản thân ông không may bị mù khi còn quá trẻ, đường công danh từ đó cũng đứt đoạn, tình riêng lại bị bội ước, cả cuộc đời gói trọn trong giai đoạn nước mất nhà tan, chịu thân phận của một người nô lệ. Tuy nhiên, không đầu hàng với số phận Nguyễn Đình Chiểu có một nghị lực sống phi thường, sau khi bị mù ông trở về quê hương bốc thuốc chữa bệnh cứu người, mở trường dạy học, tích cực tham gia phong trào kháng chiến, đồng thời sáng tác thơ văn, để lại nhiều tác phẩm có giá trị trường tồn mãi với thời gian. Về sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu có thể chia ra làm hai giai đoạn, trước năm 1958 là chủ đề đạo đức với tác phẩm tiêu biểu nhất là Lục Vân Tiên. Sau 1858, là chủ đề yêu nước với các tác phẩm như Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Chạy giặc,…

Lục Vân Tiên, được sáng tác vào khoảng đầu những năm 50 của thế kỷ XIX, thuộc thể loại truyện thơ Nôm bác học, gồm 2082 câu thơ lục bát tất cả. Về giá trị nội dung, Lục Vân Tiên xoay quanh cuộc đấu tranh giữa hai phe thiện và ác, từ đó mang đến giá trị hiện thực, vạch trần bộ mặt của những kẻ bất nhân, bất nghĩa lừa thầy phản bạn, vạch trần những cái xấu, cái bất công trong xã hội. Thứ hai là giá trị nhân đạo vững vàng của tác phẩm, khẳng định và ngợi ca những phẩm chất đẹp đẽ cao quý của con người, như tinh thần trượng nghĩa, lòng hiếu thảo, lòng chung thủy; ca ngợi tình nghĩa giữa con người với con người, như tình mẫu tử, tình nghĩa bạn bè,…; đề cao khát vọng của nhân dân hướng tới lẽ công bằng trong xã hội thiện thắng ác, chính nghĩa thì thắng gian tà; ngoài ra tác phẩm còn lên án những kẻ xấu xa bất nhân bất nghĩa lừa thầy phản bạn. Về giá trị nghệ thuật, Lục Vân Tiên xoay quanh cuộc đấu tranh giữa hai tuyến nhân vật thiện – ác, mang màu sắc Nam Bộ đậm đà về cả ngôn ngữ, tính cách nhân vật,… Đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga thuộc phần đầu của tác phẩm, kể lại việc Vân Tiên đánh cướp Phong Lai để cứu Nguyệt Nga và cuộc đối đáp giữa hai người.

Nhân vật Lục Vân Tiên trong phân đoạn đánh cướp Phong Lai, hiện lên với dáng vẻ của một con người có tinh thần trượng nghĩa, không hề băn khoăn do dự khi đánh cướp, được Nguyễn Đình Chiểu thể hiện một cách nhẹ nhàng trong câu thơ: “Vân Tiên ghé lại bên đàng/Bẻ cây làm gậy nhằm làng xông vô”. Điều đó chính tỏ rằng đối với Lục Vân Tiên việc đánh cướp cứu người như là một lẽ tự nhiên, “bẻ cây làm gậy” không màng đến an nguy của bản thân. Nguyên nhân xuất phát từ thái độ bất bình của chàng trước những kể tàn ác xấu xa “đảng hung đồ”, thứ hai là xuất phát từ lòng yêu thương bênh vực cho dân lành bị hãm hại. Ngoài tinh thần trượng nghĩa thì Lục Vân Tiên còn là một anh hùng quả cảm, có võ nghệ cao cường, nếu so với bọn cướp bủa vây bốn phía thì chàng chỉ có một mình, tay không tấc sắt chỉ có một thân cây làm gậy. Đó là trận đánh không cân sức, một bên là tướng cướp hung dữ “Phong Lai mặt đỏ phừng phừng”, quân cướp thì đông đúc, vũ khí gươm giáo đầy đủ. Từ đó tô đậm lòng dũng cảm, sự tài giỏi của Lục Vân Tiên.

“Vân Tiên tả đột hữu xôngKhác nào Triệu Tử phá vòng đương giangLâu la bốn phía vỡ tanĐều quăng gươm giáo tìm đàng chạy ngayPhong Lai trở chẳng kịp tayBị Tiên một gậy thác rày thân vong”

Thế nhưng với sự tài giỏi ứng biến tài tình, Lục Vân Tiên đã xung trận với một khí thế áp đảo “tả đột hữu xông”, được ví như hình ảnh của võ thần Triệu Tử Long thời Tam Quốc một mình, một ngựa phá vỡ vòng vây của Tào Tháo, để cứu đứa con nhỏ của Lưu Bị, thể hiện tầm vóc của người anh hùng với sức mạnh phi thường. Việc sử dụng các từ ngữ Hán việt, nhịp điệu nhanh đã làm nổi bật lên khí thế hào hùng sôi nổi cho trận đánh, cụm từ “tả đột hữu xông” là cụm từ giàu giá trị tạo hình, cho thấy Lục Vân Tiên tung hoành giữa đảng cướp như chốn không người. Bên cạnh việc xây dựng hình tượng người anh hùng Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu còn xây dựng chiến thắng tuyệt đối của chàng trước lũ cướp hung hãn. “Lâu la bốn phía vỡ tan”, hoảng sợ “quăng gươm giáo tìm đàng chạy ngay”, còn kẻ cầm đầu “Phong Lai chẳng kịp trở tay”, trong một thời gian ngắn đã “Bị Tiên một gậy thác rày thân vong”. Thắng lợi trong chớp mắt ấy lại càng tôn lên dáng vẻ quả cảm của người anh hùng có sức mạnh phi thường, phong thái hùng dũng hiên ngang, võ nghệ cao cường, sẵn sàng xả thân vì nghĩa.

Sau khi đánh cướp xong, thì Lục Vân Tiên đã tiến đến hỏi thăm an ủi Kiều Nguyệt Nga, từ đó ta lại thấy được một phương diện khác của người anh hùng này. Lời hỏi thăm rất ân cần, lịch thiệp, “Hỏi: Ai than khóc ở trong xe nầy?” đã cho thấy người anh hùng này không chỉ quả cảm, võ nghệ cao cường mà còn rất giàu lòng nhân hậu. Và sau khi biết được nguyên do thì Lục Vân Tiên chỉ đáp lại bằng một câu ngắn gọn, nhẹ nhàng “Rằng ta đã trừ dòng lâu la” dường như cái trận đánh không cân sức ấy chỉ là một chuyện thoáng qua, thể hiện lòng khiêm nhường, không thích kể công của người anh hùng chân chính. Thứ hai nữa lòng nhân hậu của Lục Vân Tiên, còn thể hiện ở tấm lòng cảm thông, thương xót dành cho những người gặp nạn. Bên cạnh đó vẻ đẹp của người anh hùng còn thể hiện ở sự hiểu biết, một mực giữ gìn lễ nghĩa cho Kiều Nguyệt Nga và cho cả bản thân mình. Lối xưng hô “nàng – ta”, cho thấy tấm lòng trân trọng, thái độ lịch sự của một con người có gia giáo, trở thành một nét đẹp trong lối ứng xử của một người đọc sách thánh hiền.

Và ở trong 6 câu thơ cuối đoạn trích ta lại thấy ở Lục Vân Tiên một lần nữa tấm lòng hào hiệp trượng nghĩa, vì dân trừ hại.

“Vân Tiên nghe nói liền cườiLàm ơn há dễ trông người trả ơnNay đà rõ đặng nguồn cơnNào ai tính thiệt so hơn làm gìNhớ câu kiến nghĩa bất viLàm người thế ấy cũng phi anh hùng”

Điều đó thể hiện qua tiếng cười rất vô tư, sảng khoái làm ơn nhưng không màng đến sự đền ơn của người. Tứ hai là thể hiện qua quan niệm về người anh hùng của Lục Vân Tiên “Nhớ câu kiến nghĩa bất vi”, đây là lời thầy dạy trong sách Thánh hiền, là người anh hùng thì phải biết làm việc nghĩa, nếu thấy mà không làm thì không phải là người anh hùng chân chính. Ở Vân Tiên ta còn thấy một phẩm chất, một lối sống cao đẹp của chàng, học đạo phải hành đạo, học đi đôi với hành, sống trong sáng, vô tư, không mưu cầu, kể công. Từ đó rút ra được quan niệm của Nguyễn Đình Chiểu rằng người anh hùng phải là người có tài trí, sức mạnh, sẵn sàng hành động vì nghĩa, mà hình tượng Lục Vân Tiên là hình mẫu lý tưởng, văn võ toàn tài, đại diện cho hình ảnh người quân tử trong xã hội cũ.

Bên cạnh nhân vật chính là Lục Vân Tiên, thì Kiều Nguyệt Nga cũng là một nhân vật được Nguyễn Đình Chiểu khá ưu ái. Thông qua phần nói chuyện với Lục Vân Tiên, thì ta có thể nhận thấy rằng nàng là một người con gái có nề nếp gia giáo, và có học thức. Nguyệt Nga có một xuất thân quyền quý, là tiểu thư khuê các con quan tri phủ Hà Khê, xong nàng lại là người rất giản dị, chân thành, không khoa trương, kênh kiệu đài các. Điều đó bộc lộ ở lời giới thiệu của nàng rất đầy đủ, nhưng vẫn chứng tỏ được sự ngưỡng mộ của mình dành cho Lục Vân Tiên. Lối xưng hô “quân tử-tiện thiếp” và hành động “lạy-thưa” cho thấy sự khiêm nhường, lòng biết ơn rất đỗi chân thành của nàng. Tổng kết lại, Kiều Nguyệt Nga là người con gái thông minh, mực thước và hiểu lễ nghĩa trong lời ăn tiếng nói. Từ câu nói “Làm con đâu dám cãi cha/Ví dầu ngàn dặm đàng xa cũng đành” cho thấy Nguyệt Nga là người sống đúng với khuôn phép gia đình, với lễ giáo phong kiến. Vượt ngàn dặm từ Tây Xuyên đến Hà Khê để định bề nghi gia nghi thất, không quản khó khăn, mệt nhọc, không quản thân gái dặm trường, thể hiện tấm lòng hiếu thảo với cha mẹ. Từ đó để lại một ấn tượng tốt đẹp về một người con gái thùy mị, nết na, thông minh, sắc sảo có học thức.

Bên cạnh những vẻ đẹp trên thì Kiều Nguyệt Nga còn gây ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả, bởi tấm lòng ân nghĩa thủy chung. Dẫu rằng nàng có ý thức rất rõ về lễ giáo nam nữ hữu biệt và hoàn cảnh của mình, thế nhưng đứng trước ân nhân cứu mạng thì nàng vẫn sẵn sàng xuống xe để cảm tạ Lục Vân Tiên, phản ánh tấm lòng biết ơn sâu sắc của nàng. Ngay sau khi bị Vân Tiên ngăn cản không cho xuống xe, thì xuất phát từ tấm lòng áy náy của mình, Nguyệt Nga đã cất lời ca ngợi công lao của Lục Vân Tiên, trước hết là ơn cứu mạng, thứ hai lớn hơn và khiến nàng biết ơn hơn cả ấy là nhờ Vân Tiên mà nàng đã bảo toàn được danh tiết được ngụ ý trong câu “Tiết trăm năm cũng bỏ đi một hồi”, từ đó nó đã trở thành một ân nghĩa không thể không báo đáp. Thế nên nàng đã cất lời mời Lục Vân Tiên về Hà Khê để cha mình đền ơn, cho thấy lối sống, ân nghĩa, thủy chung có trước có sau của Kiều Nguyệt Nga. Và đáng quý hơn cả chính là sự ý thức của nàng về việc không có bạc vàng nào có thể sánh được với công ơn của Lục Vân Tiên, từ đó cho thấy Nguyệt Nga là người coi trọng tình nghĩa, xem tình nghĩa là vô giá. Qua đoạn trích, có thể thấy rằng Kiều Nguyệt Nga chính là kết tinh cho vẻ đẹp của người phụ nữ truyền thống bởi nàng không chỉ gia giáo nết na, có học thức mà còn rất đằm thắm nghĩa tình.

Trích đoạn Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga là một đoạn trích hay, bộc lộ được vẻ đẹp lý tưởng của người quân tử theo quan niệm Nho học thông qua nhân vật Lục Vân Tiên, với sự toàn vẹn về văn võ, sự hiểu biết lễ nghi, đức tính khiêm nhường, cẩn thận, sử quả cảm và thân thủ phi thường. Bên cạnh đó ta còn thấy hiện lên hình ảnh Kiều Nguyệt Nga là kết tinh cho vẻ đẹp của người phụ nữ truyền thống, dịu dàng, nết na, ân tình thủy chung, thấu hiểu lễ nghĩa. Bộc lộ tấm lòng khao khát hành đạo cứu người của tác giả, hướng con người ta đến với chữ ‘thiện”, ước vọng con người đối xử với nhau bằng tình nghĩa, và niềm tin về chân lý cái thiện sẽ luôn luôn chiến thắng cái ác.

Bài giảng: Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga – Cô Nguyễn Ngọc Anh (Giáo viên )

Xem thêm các bài Văn mẫu phân tích, dàn ý tác phẩm lớp 9 khác:

Mục lục Văn mẫu | Văn hay 9 theo từng phần:

luc-van-tien-cuu-kieu-nguyet-nga.jsp

Các loạt bài lớp 9 khác

Bạn thấy bài viết Dàn ý Phân tích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga (30 bài văn mẫu) – Ngữ văn lớp 9 có khắc phục đươc vấn đề bạn tìm hiểu ko?, nếu ko hãy comment góp ý thêm về Dàn ý Phân tích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga (30 bài văn mẫu) – Ngữ văn lớp 9 bên dưới để Kotex Pro có thể thay đổi & cải thiện nội dung tốt hơn cho các bạn nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website: kotexpro.com.vn của Kotex Pro

Nhớ để nguồn bài viết này: Dàn ý Phân tích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga (30 bài văn mẫu) – Ngữ văn lớp 9 của website kotexpro.com.vn

Chuyên mục: Văn Học

Xem thêm bài viết hay:  Vật Lí 9 Bài 31: Hiện tượng cảm ứng điện từ – Giải bài tập SGK Vật Lí 9 Bài 31

Viết một bình luận