Phân tích Nghệ thuật châm biếm đả kích trong tác phẩm Vi Hành hay nhất – Ngữ văn lớp 11

Bạn đang xem: Phân tích Nghệ thuật châm biếm đả kích trong tác phẩm Vi Hành hay nhất – Ngữ văn lớp 11 tại Kotex Pro Đề bài: Phân tích nội dung châm biếm, đả …

Bạn đang xem: Phân tích Nghệ thuật châm biếm đả kích trong tác phẩm Vi Hành hay nhất – Ngữ văn lớp 11 tại Kotex Pro

Đề bài: Phân tích nội dung châm biếm, đả kích trong truyện ngắn Vi (Nguyễn Ái Quốc)

Vi hành là một truyện ngắn trào phúng chống chủ nghĩa đế quốc, một trong những thể loại ra đời sớm nhất của văn học Việt Nam hiện đại. Truyện ngắn được sáng tác nhằm mục đích tố cáo sự thật của tên vua bù nhìn Khải Định khi sang Pháp dự trận đánh thuộc địa ở Mác-xây năm 1922, đồng thời nhằm vạch trần bộ mặt xấu xa của thực dân Pháp. “Bạo hành” là tác phẩm tiêu biểu cho nghệ thuật trào phúng, đả kích của Nguyễn Ái Quốc.

“Bạo lực” được sáng tác vì Cách mạng, vì tinh thần đấu tranh. Nó nằm trong hệ thống các tin, bài do Nguyễn Ái Quốc viết nhằm tố cáo sự thật của tên vua bù nhìn Khải Định. Tên vương gia đó không khác gì một tên hề lố bịch, hành động lén lút nhưng mờ ám. Qua câu chuyện, Nguyễn Ái Quốc cũng muốn tố cáo bọn thực dân Pháp đê hèn, dối trá, đồng thời ngấm ngầm bộc lộ nỗi xấu hổ của người dân bản xứ. Vua bù nhìn Khải Định và bọn thực dân Pháp hiện ra dưới ngòi bút trào phúng, công kích Nguyễn Ái Quốc vừa lố bịch vừa ác độc.

Nghệ thuật trào phúng cũng có mặt trong văn học Việt Nam như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương… tuy nhiên tiếng cười mỉa mai ở Nguyễn Ái Quốc lại có một giọng điệu riêng với niềm tin, sự lạc quan của người Việt Nam. một chiến sĩ cộng sản. “Bạo lực” là sự thể hiện của một ngòi bút trào phúng vừa thâm thúy, vừa mang tính chiến đấu, vừa mới mẻ, hóm hỉnh.

Nếu như Nguyễn Đăng Mạnh từng cho rằng “tình huống truyện như một bài thơ tứ tuyệt. Nó như một gáo nước gạn nước làm nổi bật màu sắc nhân vật, làm nổi bật vấn đề và tư tưởng của tác giả” thì ở Ví von, Nguyễn Ái Quốc đã tạo ra những tình huống oái ăm, hài hước nhưng lại tạo hiệu ứng châm biếm sâu sắc. Đó là một tình huống nhầm lẫn đơn giản mà vô cùng hợp lí, lung linh nhiều ánh sáng bất ngờ, gây ấn tượng mạnh mẽ cho người đọc. Từ sự nhầm lẫn của hai vợ chồng người Pháp đến sự nhầm lẫn của toàn dân, chính phủ Pháp cứ tưởng người áo vàng là Khải Định. Dù vua bù nhìn Khải Định không trực tiếp xuất hiện trong truyện nhưng sự thật vẫn hiện ra rất rõ ràng qua lời kể và con mắt của hai vợ chồng người Pháp. Trong mắt người Pháp, Khải Định ăn mặc lố bịch như một chú hề, “đầu quấn cái chụp đèn” trang sức sặc sỡ lố bịch “Đeo đủ loại chuỗi hạt” và có giá trị rẻ hơn cả trò giải trí rẻ tiền nhất. Khải Định được coi là một hiện tượng lạ. Một “ông vua” mũi tẹt, mắt xếch, da vàng như vỏ chanh, mặc áo lụa, chuỗi hạt, ngón tay đeo đầy nhẫn lúng túng bước đi giữa Paris hoa lệ. Vậy anh ấy đã đi đâu? Hãy đến trường đua, những tụ điểm ăn chơi phóng túng nhất Paris. Khải Định dáng người ngượng ngùng, vụng về trông thật thảm hại. Bạn có muốn biết liệu người dân Pháp, dưới sự cai trị của người bạn Alexander Đại đế của bạn, có thể hạnh phúc, uống nhiều rượu và hút thuốc phiện nhiều như người dân miền Nam, dưới sự cai trị của ngày không? .. Hay đã chán làm vua lớn, giờ muốn nếm trải cuộc sống của những cậu bé?”. Làm lén lút hay làm chuyện mờ ám? Khải Định tự lột mặt nạ, hóa ra ông chỉ là ăn chơi vô độ, không có phong thái đường hoàng, sang trọng của một bậc quân vương, đi kèm với những lời lẽ châm biếm đó là sự trực diện của tác giả trong những câu hỏi giả định, so sánh, liên tưởng đến Khải Định khi xuất hiện đối lập với vua Thuấn, vua Pie hơn đê hèn, tầm thường và hèn hạ. Tác phẩm liên tục xuất hiện những câu hỏi đặt ra giả thiết về mục đích hành vi “không cao thượng” của Khải Định. Các từ “có phải”, “hay là”, “hay không”… đan xen nhau, nối tiếp nhau khác như thể Nguyễn Ái Quốc đang trà trộn, soi xét, lật giở chuyện này chuyện kia để phơi bày trần trụi mọi sự xấu xa của Khải Định.

Không những thế, trong mắt người Pháp, ông ta không chỉ là một tay ăn chơi lố bịch, không chỉ thích đàn bà “đeo đủ lụa là đeo chuỗi hạt” mà còn thích một cuộc vui không mất tiền, một tên hề. Qua câu chuyện của đôi trai gái trên xe buýt: “Anh còn nhớ buổi khiêu vũ vũ hội thời thuộc địa không? hôm nay mất xu nào để được nhìn thấy nhà vua đứng bên cạnh chúng ta. Tôi nghe nói rằng ông chủ nhà hát múa rối có ý định ký hợp đồng cho thuê.” Thực sự không có từ nào tốt hơn cho tên vua bù nhìn đó. Vậy mà tác giả, vốn bị nhầm là Hoàng đế, lại phải hứng chịu mọi sự mỉa mai, khinh miệt qua con mắt của cặp vợ chồng người Pháp. Nhưng chả trách hai vợ chồng lầm tưởng “ai da vàng làm Hoàng đế ở Pháp” mà chính phủ Pháp và quần chúng Pháp lầm to. Thế rồi, trớ trêu thay, “quần chúng chỉ sôi nổi nói khi thoáng thấy đồng bào ta” với những lời chào kín đáo “Anh ấy đấy! Nhìn anh ấy kìa”. Vua nước Nam gọi là “ngài” bị nhìn với ánh mắt thèm thuồng, tò mò như một dị vật, một trò hề. Ý nghĩa phê phán của tác phẩm ngày càng mạnh mẽ. Qua câu chuyện được tác giả kể lại trong bức thư gửi người em họ, một bức chân dung độc đáo, ấn tượng, có sức tố cáo mạnh mẽ được thể hiện dưới hình thức một tâm tư tình cảm – một sáng tạo độc đáo của Nguyễn Ái Quốc. Quốc gia. Tác giả đã liên hệ, so sánh đối chiếu, chuyển giọng, chuyển cảnh linh hoạt. Mỉa mai nhưng thật cay đắng, Khải Định ăn chơi xa xỉ trên mồ hôi nước mắt của nhân dân. Bằng sự tài tình của mình, Nguyễn Ái Quốc đã khắc họa chân thực tên vua bù nhìn một cách sinh động, ấn tượng với vẻ ngoài lố bịch và những hành động vụng về của hắn. Bên ngoài câu chuyện có vẻ như đùa giỡn, nhưng bên trong tác giả ngầm thể hiện thái độ khinh thường, xót xa – đau buồn cho đất nước khi có một vị vua như Khải Định.

Sự sắc sảo của nghệ thuật châm biếm không chỉ thể hiện ở việc miêu tả hình dáng, hành động của tên vua bù nhìn Khải Định mà còn ở việc miêu tả bọn thực dân Pháp, đặc biệt là bọn mật thám. và chính phủ Pháp. Ngay cả chính phủ Pháp cũng không thể nhận ra những vị khách thực sự của mình nên “ông đã đối xử với tất cả người An Nam như bậc vua chúa và cử tùy tùng hộ tống tất cả”. Nụ cười của Nguyễn Ái Quốc ở đây là nụ cười châm biếm, bóng gió, một cách nói cứ nói xa, nói gần, nghĩa đen, nghĩa bóng với một hệ thống ngôn ngữ vô cùng phong phú: “Xin chào”. , “vì”, “nhiệt tình”, “tận tình”, “âu yếm”,:“tự hào”… bên cạnh những câu mỉa mai táo bạo và so sánh sắc sảo: “Các bạn đã không tiếc công sức bảo vệ chúng tôi, và giá như cô ấy có thể thấy các bạn đang chăm chú quan sát tôi như một người mẹ nhìn đứa con chập chững bước đi, cô ấy sẽ ghen tị vì tình cảm của các bạn dành cho tôi.” Nguyễn Ái Quốc đã tố cáo thủ đoạn, bịp bợm của thực dân Pháp đối với Đông Dương, đả kích chế độ mật thám Pháp đã xâm phạm các quyền tự do cá nhân của người dân thuộc địa. Ngoài ra, ông còn dùng biện pháp song song “mọi người da vàng đều là hoàng đế – Đông Dương ai cũng là văn minh” và các biện pháp liên quan để phê phán chính sách ngu dân. nhân dân, đầu độc đồng bào của thực dân Pháp. Tiếng cười của Bác là tiếng cười trí tuệ, không phải là tiếng cười giả tạo bề ngoài mà là tiếng cười thâm thúy ở bề sâu. Tiếng cười chỉ xuất hiện cay đắng và mỉa mai như kết quả cuối cùng của một quá trình suy nghĩ để nhận ra bản chất phi tự nhiên của sự vật và sự kiện. Vua – một danh hiệu sang trọng nhưng thực ra đê hèn, chính sách bảo hộ – danh thì nhân từ nhưng thực chất là sự bóc lột vô cùng tàn ác, ngòi bút trào phúng sâu sắc của tác giả đã chú ý khai thác các mặt đối lập trong một thể thống nhất bên cạnh việc phát hiện sự thống nhất trong các hiện tượng mâu thuẫn. Tiếng cười có nhiều sắc thái, vừa có sự khinh bỉ của một nhà cách mạng, vừa có nỗi đau của một người dân mất nước, vừa có phẩm chất sâu sắc của một người am tường lịch sử, vừa có vẻ tinh nghịch, trẻ trung của tuổi trẻ.

Đi sâu vào thế giới nghệ thuật của “Tử Vi” ta bắt gặp sự phong phú của nhiều yếu tố giọng điệu, hình ảnh… Tác phẩm còn thu hút người đọc bởi cách kể vô cùng độc đáo, khác lạ. “Tầm nhìn” là sự luân chuyển, đan xen của nhiều giọng điệu, nhiều giọng điệu. Mở đầu truyện là giọng giễu cợt của một người ngoài, tiếp đến là giọng thân mật của tác giả và người em họ, sau đó là giọng nhắc nhở của các đại vương nhằm chế giễu Khải Định. hành động vì những lý do vô đạo đức. Và đặc biệt, khi tác giả hỏi: “Ông muốn biết người dân Pháp dưới sự cai trị của bạn ông có hạnh phúc không?” … giọng điệu càng giễu cợt tên vua bán nước.

Truyện ngắn Bạo hành không chỉ là tiếng cười trào phúng mà còn là tâm trạng, cảm xúc của tác giả. Tâm trạng đó không chỉ ở dạng giễu cợt, châm biếm, giễu cợt mà còn thể hiện lòng căm thù giặc và nỗi đau mất nước. Lòng yêu nước đôi khi được thể hiện một cách chua chát trong giọng điệu như một nghịch lý.” Ngày nay, mỗi khi bước ra khỏi cửa, thực sự không hiểu sao tôi không giấu được niềm tự hào là người An Nam và niềm tự hào có một vị hoàng đế. .”

Sự sáng tạo tài tình của Nguyễn Ái Quốc đã được kết tinh trong một bút pháp trào phúng bậc thầy – một nghệ thuật đả kích phê phán quen thuộc. Nhưng với “Vi diễn” Nguyễn Ái Quốc đã mang đến tiếng cười mới có chiều sâu trí tuệ. Tiếng cười sâu cay được phát ra từ cách dùng từ, xây dựng tình huống, xây dựng chân dung nhân vật. Tiếng cười ấy là tiếng cười trí tuệ – càng nghĩ, càng thấm, càng đau.

Xem thêm các bài văn mẫu về phân tích và lập dàn ý tác phẩm lớp 11:

vi-hanh.jsp

Các bộ đề lớp 11 khác

Bạn thấy bài viết Phân tích Nghệ thuật châm biếm đả kích trong tác phẩm Vi Hành hay nhất – Ngữ văn lớp 11 có khắc phục đươc vấn đề bạn tìm hiểu ko?, nếu ko hãy comment góp ý thêm về Phân tích Nghệ thuật châm biếm đả kích trong tác phẩm Vi Hành hay nhất – Ngữ văn lớp 11 bên dưới để Kotex Pro có thể thay đổi & cải thiện nội dung tốt hơn cho các bạn nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website: kotexpro.com.vn của Kotex Pro

Nhớ để nguồn bài viết này: Phân tích Nghệ thuật châm biếm đả kích trong tác phẩm Vi Hành hay nhất – Ngữ văn lớp 11 của website kotexpro.com.vn

Chuyên mục: Văn Học

Xem thêm bài viết hay:  Top 40 Viết bài văn nêu suy nghĩ của em về hiện tượng nhiều học sinh đoạt giải huy chương vàng | Văn mẫu lớp 9

Viết một bình luận